Cung tuyên tiểu sử Đệ Nhị tổ Pháp Loa (Đồng Kiên Cương)

Thứ tư - 13/05/2026 09:17 6 0
Đại đức Thích Chân Thường, Ủy viên BLL họ Đồng Việt Nam, Phó ban – Thường trực BLL họ Đồng TP. Hải Phòng; Trụ trì chùa Linh Xuân, Tú Đôi, Nghi Dương, Hải Phòng thay mặt Ban Tổ chức cung tuyên tiểu sử Đệ Nhị tổ Pháp Loa (Đồng Kiên Cương)
Cung tuyên tiểu sử Đệ Nhị tổ Pháp Loa (Đồng Kiên Cương)
Kính lạy anh linh ông bà, tổ tiên họ Đồng Việt Nam.
Kính lạy anh linh Đức Thánh tổ Pháp Loa (Đồng Kiên Cương).
Kính thưa toàn thể bà con, anh chị em dòng họ Đồng Việt Nam
Với lòng mong muốn thể hiện một việc làm có ý nghĩa văn hóa truyền thống tâm linh, thể hiện lòng tri ân và báo ân đối với tổ tiên, ông bà và các anh hùng liệt sĩ họ Đồng.
Hôm nay, trong ý nghĩa duyên khởi của Pháp giới, âm siêu dương thới, sự giao hòa giữa thế giới người sống và thế giới người đã khuất, với tinh thần tri ân và báo ân của người con Phật, bằng tinh thần đồng cảm, tâm từ bi bình đẳng, họ Đồng Việt Nam phối hợp với BLL họ Đồng TP. Hải Phòng, long trọng tổ chức Lễ tưởng niệm 696 năm ngày Đệ Nhị Tổ Pháp Loa (Đồng Kiên Cương) nhập Niết bàn; Cầu siêu tri ân tổ tiên, cầu an và ra mắt Ban Liên lạc họ Đồng TP. Hải Phòng nhiệm kỳ 2026–2030. Được Ban Tổ chức có lời, Nhà chùa xin phép cung tuyên tiểu sử Đệ Nhị Tổ Pháp Loa (Đồng Kiên Cương) để mỗi người con Phật, bà con người họ Đồng chúng ta có mặt về dự Đại lễ hôm nay thêm ngưỡng vọng và tự hào về người con kiệt xuất của họ Đồng Việt Nam.
Thưa đại lễ!
Tổ Pháp Loa tên thật là Đồng Kiên Cương, sinh ngày 7 tháng 5 năm Giáp Thân, niên hiệu Thiệu Bảo thứ VI (1284), quê làng Cửu La, huyện Chí Linh, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Cha Tổ Kiên Cương là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cửu.
Nhiều sử sách đều ghi chép: Mẹ Đồng Kiên Cương nằm mơ thấy một vị thần trao cho thanh bảo kiếm, bà mẹ vui vẻ nhận lấy, sau bà mang thai và đã tám lần sinh con gái, nên lần mang thai Tổ, mẹ Kiên Cương lo lắng lại sinh gái nên đã dùng thuốc hư thai, nhưng không công hiệu. Khi sinh Tổ, có hương thơm bay khắp nhà, mọi người đều cho là điềm lạ. Cha mẹ Tổ mừng lắm, đặt tên là Kiên Cương. Tổ bẩm sinh tính thông minh đĩnh ngộ, học một biết mười, tuy mới tròn 20 tuổi nhưng sức hiểu biết đã đạt tới đỉnh cao, Kiên Cương không chỉ tinh thông Phật học mà cả Nho giáo, Lão giáo cũng rất am tường. Từ nhỏ đến lớn Tổ không hề nói lời xấu ác, biết trọng đức hiếu sinh, không thích ăn thịt cá. Gia đình Kiên Cương vốn nhiều đời theo đạo Phật, năm 21 tuổi khi Tổ ngỏ ý xin đi tu, liền được cha mẹ và Gia tộc chấp thuận.
Niên hiệu Hưng Long XII (1304), Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông và đoàn sứ giả du hành tới các nơi thôn dã để hoằng dương Phật pháp, bố thí và khuyên dân phá bỏ những nơi thờ thần không chân chính, khuyến khích nhân dân hướng tâm vào các việc phúc thiện, có ích lợi cho gia đình và cộng đồng… Khi Phật hoàng đến huyện Nam Sách, Tổ Kiên Cương tìm đến yết kiến Giác Hoàng xin được đi theo xuất gia. Giác Hoàng nhìn thấy tư chất thông tuệ và sự dĩnh ngộ khác thường của Kiên Cương liền hoan hỷ chấp nhận ngay, Phật hoàng ban tên mới cho Kiên Cương là Thiện Lai, và nói rằng: "Kẻ này có tuệ nhãn, ắt sau này làm long thịnh cho Phật pháp!", rồi cho người họ Đồng theo Tổ về chùa Long Động, để làm lễ thế phát, thụ giới Sa - di. Sau một thời gian, thấy Kiên Cương chăm học hỏi, Giác Hoàng Trần Nhân Tông lại đưa Tổ Kiên Cương tới tham học với Hòa thượng Tính Giác ở Quỳnh Quán. Ở đây, Tổ Đồng Kiên Cương chuyên nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm, khi đọc phần chính tông, đoạn nói về A Nan bảy lần hỏi về cái "tâm" đến đoạn nói về "khách trần" thì Tổ bừng tỉnh, nhận ra là Phật giáo thiền, "tính thấy vốn không sinh, diệt…", từ đây Tổ đã giác ngộ Phật pháp.
Một hôm, Tổ Kiên Cưong về tham yết Giác Hoàng và trình kiến giải của mình bằng một bài tụng về "tam yếu" bị Giác Hoàng gạch đi cả. Đã mấy lần Tổ Kiên Cương thỉnh cầu Giác Hoàng đều làm thinh và bảo: "Hãy tự mình tham khảo lấy"...  Đêm ấy, với sự quyết tâm lớn, Tổ Kiên Cương về phòng nhập thiền, tâm trí. Tự nhiên Tổ cảm thấy tâm trạng dao động mạnh, với bao ý nghĩ vụt hiện, vụt tắt; quá nửa đêm, khi hoa đèn lụi…, Tổ chợt được đại giác ngộ Phật học. Sáng hôm sau, Tổ lên trình Phật Hoàng chỗ sở ngộ và được Giác Hoàng ấn chứng. Từ đó, Tổ Kiên Cương được Giác hoàng cho nguyện tu theo mười hạnh đầu đà và phát lời nguyện lớn: "Chư Phật và Bồ Tát, có những hạnh nguyện nào, tôi xin học và thực hành theo; dù chúng sinh khen hay chê, dù khinh hay trọng, dù bố thí hay cướp đoạt, khi mắt thấy, tai nghe cũng đều hỷ xả, khiến cho tất cả cùng bước lên nấc thang giác ngộ"[1].
Niên hiệu Hưng Long XIII (1305), Giác Hoàng Trần Nhân Tông lập đại giới đàn cho Tổ thụ Tỳ khưu và Bồ tát, và đặt pháp danh Pháp Loa cho Đồng Kiên Cương. Qua những lần khảo chứng, nhận thấy Tổ đã thực sự giác ngộ đạo Phật, lại đêm ngày chăm chỉ đèn sách, đã tinh thông mọi kinh điển Phật học, Giác Hoàng Trần Nhân Tông hài lòng lắm, liền cử Tổ làm chủ trì giảng pháp tại chùa Báo Ân ở Siêu Loại (Bắc Ninh). Năm 1307, Tổ Pháp Loa cùng với năm vị pháp hữu tới am Ngọa Vân cầu thỉnh Giác Hoàng dạy bộ Đại Tuệ Ngữ Lục. Tháng 5 năm đó, trên am Ngọa Vân, khi làm lễ Bồ tát xong, Tổ Pháp Loa (Đồng Kiên Cương) chính thức được Giác Hoàng trao y bát và tâm kệ.
Niên hiệu Hưng Long XVI (1308), đúng ngày mồng một tết năm Mậu Thân, Tổ Pháp Loa chính thức được Giác Hoàng cử giữ chức trụ trì chùa Báo Ân và được suy tôn là Đệ Nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử. Việc này xảy ra trong sự chứng giám của đầy đủ thành phần kể cả vua Anh Tông đương nhiệm. Như vậy, ta thấy sự tin tưởng và đánh giá rất cao năng lực của Pháp Loa nên Nhân Tông mới tổ chức lễ truyền pháp long trọng tạo sức mạnh to lớn đầy hiệu lực cho Pháp Loa (Đồng Kiên Cương) và khẳng định vai trò lãnh đạo của Pháp Loa như sách Tam Tổ Thực Lục chép: "Năm Mậu Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 16, vào ngày mồng một tháng giêng, Pháp Loa phụng mệnh làm người nối pháp trù trì chùa Siêu Loại ở giảng đường Cam Lộ. Bắt đầu buổi lễ, mọi người làm lễ ở tổ đường; đại nhạc được tấu lên, các loại danh hương được xông đốt... Ðiều Ngự đưa Pháp Loa vào lạy ở tổ đường xong, cùng xuống thực đường để ăn cháo sáng. Sau buổi triêu thực. Nhạc tấu lên, trống lớn nổi dậy, đại chúng chư tăng được triệu tập cùng lên pháp đường; lúc đó vua Anh Tông đã ngự giá tới chùa; ngôi chủ khách đã phân xong, mọi người cùng ngồi. Anh Tông lúc đó đóng vai một vị đàn việt[2] lớn của Phật Pháp, ngồi vào ghế khách của pháp đường, quốc phụ thượng tể cùng với các quan cùng đứng dưới sân. Ðiều Ngự thăng đường thuyết pháp. Thuyết pháp xong Điều Ngự rời pháp tòa, dắt Pháp Loa cho ngồi trên pháp tòa, rồi đứng đối diện Pháp Loa làm lễ thăm hỏi. Sau đó Pháp Loa đáp bái lại. Ðiều Ngự trao pháp y cho Pháp Loa khoác vào. Bấy giờ Ðiều Ngự ngồi xuống ghế khúc lục một bên để nghe Pháp Loa thuyết pháp. Xong rồi, Ðiều Ngự đem Sơn Môn (Giáo Hội) Yên Tử và chùa Siêu Loại ủy cho Pháp Loa kế thế trụ trì, làm tổ thứ hai phái Trúc Lâm".
Trúc Lâm đã sắp đặt cho cả triều đình có mặt tại buổi lễ truyền đăng có vua Anh Tông chứng kiến sự kiện truyền y pháp giữa thầy trò Trúc Lâm và Pháp Loa, để sau này không ai có thể phủ nhận giá trị lãnh đạo của Pháp Loa nữa. Tất cả những điều này cho ta thấy chủ ý của Điều Ngự muốn đặt cơ sở vững chãi cho một nền Phật Giáo thống nhất và nhập thế tại Việt Nam. Điều này giúp Pháp Loa sau này thi hành được dễ dàng nhiệm vụ lãnh đạo giáo hội của mình, vua Trần Anh Tông luôn cung kính vâng theo Pháp Loa luôn xưng là đệ tử, hết lòng ủng hộ việc hành đạo của Pháp Loa. Sau khi Tổ chính thức được cử làm lễ Đệ nhị tổ lãnh đạo Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, số người xin xuất gia và quy y học đạo có hàng vạn (riêng về tăng, ni xin làm đệ tử là 15.000 người, Tổ phải nhờ hai vị sư huynh là Tông Cảnh và Bảo Phác về chùa Báo Ân dạy luật Tứ Phần cho các học tăng. Tổ Tông Cảnh trụ trì chùa Tiên Du (Bắc Ninh) và Tổ Bảo Phác trụ trì chùa Vũ Ninh. Cả hai vị lúc ấy đã được triều đình tôn là quốc sư. Còn Tổ Pháp Loa nhận trách nhiệm giảng các bộ kinh lớn như: Kim Cương, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Lăng Già, Viên Giác, Pháp Hoa và Niết Bàn, các bộ ngữ lục như: Đại Tuệ Ngữ Lục, Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục… ngoài ra, Tổ Kiên Cương - Pháp Loa còn tới thuyết pháp cho tín đồ tại các chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều), Dưỡng Phúc, Xí Thịnh Quang, An Lạc Tàng Viện và Kiến Xương phủ (Thái Bình). Trong số các đệ tử kể trên, đắc pháp khoảng 3.000 người; số tự viện cũng được xây dựng rất nhiều, gồm 800 sở, dựng hai đài giảng kinh, xây 5 cây bảo tháp, đúc 1.300 tượng Phật lớn nhỏ bằng đồng. Theo Việt Nam Phật giáo sử luận[3] trang 382, vị vua Trần Anh Tông rất mến chuộng Tổ: "Nhân ngày lên làm Thái thượng hoàng, đã cho đúc tượng đồng ba vị Phật A Di Đà, Thích Ca và Di Lặc, mỗi tượng cao 17 thước ta".
Cũng theo sách Việt Nam Phật Giáo sử luận, số bất động sản do triều đình và tín đồ cúng cho Tổ Pháp Loa để xây dựng Đại Tùng Lâm (ở hai chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều) và Báo Ân (Hà Nội)) số ruộng có hàng 1000 mẫu: Năm 1308, vua Trần Anh Tông đã lấy 100 mẫu ruộng của riêng gia đình nhà Trần để cúng vào chùa Bảo Ân. Năm 1312, Trần Anh Tông cúng năm vạn quan tiền để Pháp Loa bố thí cho người nghèo. Vua cũng dâng cúng thuyền bè và kiệu phu cho chùa dùng, nhưng Pháp Loa từ chối không nhận. Vua lại sai lấy 500 mẫu ruộng từ Miện Như Trang cúng vào chùa làm bất động sản. Năm 1313, vua Trần Anh Tông lại theo lời di chiếu của Giác Hoàng Trần Nhân Tông lấy những bảo vật thờ tự Tam Bảo của mẹ cúng dường vào chùa Báo Ân, lại cúng Giàng vật liệu xây dựng và cung cấp thợ phụ để làm thêm chùa tháp. Cũng trong năm đó, hoàng thái hậu Bảo Từ cúng vào chùa Siêu Loại 300 mẫu gia điền. Trước đấy, Hoàng Thái hậu đã quy y tại chùa này. Năm 1315, Trần Anh Tông lấy 30 mẫu ruộng của người cung nhân của họ Phạm cúng vào chùa. Năm 1317, Tư đồ Văn Huệ Vương và công chúa Thượng Trân cúng dường tới 900 lạng vàng để đúc tượng Phật Di Lặc. Con trai của công chúa Nhật Trinh là cư sĩ Di Loan cúng dường 300 mẫu ruộng tại phủ Thanh Hoa. Hoàng thái hậu Bảo Tử cúng dường 222 mẫu đất ở phủ An Hoa. Sau đó, tư đồ Văn Huệ Vương lại cúng 300 mẫu ruộng ở Gia Lâm. Lúc này điền địa cúng vào cho riêng chùa Quỳnh Lâm đã lên tới trên 1.000 mẫu. Chùa có tới 1.000 người tá điền làm ruộng…"[4]. Những thông tin trên cho thấy trách nhiệm, công lao và ân đức của Pháp Loa (Đồng Kiên Cương) lớn ra sao và được Trần triều đương nhiệm tín nhiệm thế nào?
Bộ Đại Tạng Kinh, lần đầu tiên được Pháp Loa (Đồng Kiên Cương) biên soạn và ấn hành ở nước ta vào giai đoạn này, gồm 5.000 quyển[5]. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép là "bản phó được khắc và in để lưu hành"[6]. Công cuộc khắc và in Đại Tạng Kinh thời điểm Tổ Pháp Loa chủ trì, khởi sự năm 1311, mãi tới năm 1329 mới hoàn thành. Sách Tam Tổ Thực Lục còn chép là vua Trần Anh Tông sai khắc các tác phẩm của Giác Hoàng như: "Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Trúc Lâm Hậu Lục, Thạch Thất Mị Ngữ, Tăng Già Toái Sự và Đại Hương Hải Ân Thi Tập” để vào Đại Tạng Kinh đời Trần.
Năm 1312, vua Trần Anh Tông thỉnh Tổ Pháp Loa  (Đồng Kiên Cương) vào cung Tư Phúc giảng Đại Tuệ Ngũ Lục, vì trước đó, năm 1304, vua Anh Tông đã được Giác Hoàng truyền thụ tại gia Bồ tát Tâm giới nên lần này, vua ngỏ ý nhờ Tổ chỉ dẫn cách thức thực hành "Hạnh Nguyện Bồ Tát" để giữ nước an dân và hộ trì Chính Pháp. Tổ đã biên tập cuốn Hộ Quốc Nhân vương Nghi quỹ để giúp vua Trần Anh Tông quán triệt đường lối tu học và cách hành xử của các bậc đế vương sao cho có ích lợi đối với dân với nước. Năm sau, tức vào 1313, Tổ phụng chiếu Vua về trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm[7] và đặt văn phòng Trung ương của Giáo Hội ở đó. Văn bia chùa thời Trần viết: “Đức Tổ Điều Ngự Pháp Loa khi mở Đại Tùng lâm này, còn mở cái chợ Đức La. Các vị vương thân quốc thích và thập phương đàn Việt, phát tâm tậu ruộng đất ở tại bản xã và các hạt khác các nơi, để cúng hương dâng tam bảo muôn đời. Chùa này và chùa Sùng Nghiêm cả thảy 72 chốn tùng lâm, công đức sáng tạo, hợp khắc vào bia ở chùa Hoa Nghiêm núi Yên Tử”. Một tấm bia chùa dựng khác viết: “Ðức tổ Điều Ngự (tức Trần Nhân Tông) khi mở tùng lâm này (tức chùa Vĩnh Nghiêm[8]), mở cả chợ chùa. Các vị vương thân quốc thích và khách thập phương đã phát tâm tậu nhiều ruộng cúng cho chùa, gồm cả ruộng trong xã và ruộng ở các hạt khác nữa”.
Niên hiệu Đại Khánh thứ IV (1317), đời vua Trần Minh Tông, tháng 2, năm Đinh Tỵ, Tổ Pháp Loa bị ốm nặng, Tổ Kiên Cương liền viết tâm kệ và lấy bộ pháp y của Giác Hoàng đã trao cho Tổ khi trước để tặng lại cho Trạng nguyên Lý Đạo Tái - tức đệ tam Tổ Huyền Quang, còn pháp khí và tích trượng thì trao cho Cảnh Nguyện, phất tử thì Tổ Kiên Cương trao cho Cảnh Huy, gậy trúc Tổ trao cho Huệ Quán, pháp thư Tổ Pháp Loa trao cho Huệ Nhiên, linh vàng Tổ trao cho Hải Ân, mỏ vàng thì Tổ (Kiên Cương) trao cho Huệ Chúc…, nhưng chỉ sau đó ít ngày, Tổ Pháp Loa lại được bình phục.
Năm 1318, thượng hoàng Trần Anh Tông thỉnh Tổ vào cung Thiên Trường để giảng bộ Tuyết Đầu Ngữ Lục, sau khi khóa giảng kết thúc, vua Anh Tông tự tay viết 4 chữ "Phổ Tuệ Tôn Giả" kính dâng Tổ[9]. Quốc vụ thượng tể Trần Quốc Chẩn cũng thỉnh Tổ vào phủ An Hoa giảng Đại Tuệ ngữ Lục. Cũng năm ấy, Tổ còn trao giới Tại gia Tam quy cho công chúa Hoa Dương nhà Trần.
Năm 1320, đại vương Tuệ Nhân xin thụ Bồ Tát Tâm Giới và Quốc vụ Thượng tể thụ giới Tại gia Bồ Tát. Cách ba năm sau, năm 1323, các vương Trần triều như: Văn Huệ Vương và Uy Huệ Vương đích thân đến chùa Báo Ân xin thụ Bồ Tát Tâm giới, hoàng thái hậu Bảo Từ và công chúa Bảo Vân cũng xin Tổ giảng kinh Hoa Nghiêm.
Niên hiệu Khai Hựu năm đầu (1329), đời Trần Hiến Tông, Tổ Pháp Loa còn hưng công, xây dựng tiếp chùa Côn Sơn và chùa Thanh Mai tạo cho nơi đây thành danh lam thắng cảnh. Tổ có làm bài thơ đề tên là: Luyến Thanh Sơn. Nguyên văn như sau:
"Sơ sấu cùng thu thủy
Sàm nham lạc chiếu trung
Ngang đầu khán bất tận
Lai lộ hựu trùng trùng".
Dịch thơ
“Dòng thu gầy hun hút
Núi cao soi nước trong
Ngửng đầu nhìn bất tận
Đường trước nổi muôn trùng[10].
Niên hiệu Khai Hựu thứ 11 (1330). Ngày 5 tháng 2 năm Canh Ngọ, Tổ Pháp Loa (Đồng Kiên Cương) đang giảng kinh Hoa Nghiêm cho hàng ngàn người tới nghe tại viện An Lạc, bỗng Tổ cảm thấy trong mình khó chịu, Tổ Pháp Loa liền nhờ trưởng lão Bích Phong giảng tiếp. Đến ngày 11 thì bệnh Tổ thêm trầm trọng.
Đến ngày 13, các đệ tử đưa Tổ Pháp Loa về thiền viện chùa Quỳnh Lâm tĩnh dưỡng. Ngày 1 tháng 3, Thượng hoàng Trần Minh Tông đích thân đến thăm và cho gọi ngự y tới chẩn mạch và cắt thuốc cho Tổ Pháp Loa (Kiên Cương), nhưng tiếc rằng bệnh vẫn không thuyên giảm, các đệ tử quì bạch: "Xưa nay các bậc đại ngộ, lúc sắp tịch, đều có những lời kệ để lại cho đời sau, sao riêng thầy không có?"
Tổ liền ngồi dậy, cầm bút viết bài kệ sau:
"Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn
Tứ thập dư niên mộng huyễn gian
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn
Na biên phong nguyệt cánh man khoan".
Viết xong bài kệ, Tổ định thần thị tịch, ngày 3 tháng 3 năm Canh Ngọ, trụ thế 46 năm.
Sau khi được tin Tổ Pháp Loa viên tịch, thượng hoàng Trần Minh Tông đích thân ngự bút truy tặng Tổ là Tịnh Trí Đại Tôn Giả, đặt tên tháp Tổ là Viên Thông bảo tháp và cúng mười lạng vàng để xây tháp; các đệ tử theo lời di chúc của Tổ, rước nhục thể Pháp Loa về nhập tháp tại núi chùa Thanh Mai[11].
Ngót phần ba thế kỷ, từ khi đắc pháp đến lúc nhập diệt, ròng rã 24 năm, Tổ đã không ngừng cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kế thừa sự nghiệp lãnh đạo Giáo hội Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, do Giác Hoàng Trần Nhân Tông trao phó, xét quá trình hoạt động hoằng dương Phật phát của Tổ Pháp Loa (Đồng Kiên Cương), ta nhận thấy:
Cách thức Nhập thế và Hành đạo của Pháp Loa (Đồng Kiên Cương): đối với tín đồ Phật giáo, bao gồm đầy đủ các tầng lớp trong xã hội, từ vua, quan đến thứ dân nhưng Tổ Kiên Cương luôn luôn gần gũi đối xử bình đẳng với tất cả mọi người, thể hiện qua những buổi đàm kinh, thuyết pháp, khi ở triều nội, lúc ở các chùa viện…
Công cuộc Xây dựng và Kiến thiết: Tổ đã xây dựng 800 chùa, tháp, nhất là việc mở Đại Tùng lâm ở hai chùa Báo Ân, chùa Quỳnh Lâm, nhằm mục đích là đào tạo tăng tài, để sau ra hoằng dương Phật Pháp và giáo hóa tín đồ.
Phương diện Văn học: Tổ đã trước tác và chú giải các bộ kinh lớn, nhưng sự nghiệp quan trọng trong thời đại Tổ là việc ấn hành bộ Đại Tạng Kinh, và việc tổ chức xây dựng giáo hội thống nhất Đạo Phật Việt. Công cuộc tiến hành còn đang dở dang thì Tổ viên tịch. Đây quả là sự thiệt thòi, mất mát lớn lao chung cho đạo pháp và dân tộc Việt!
Những tác phẩm của Pháp Loa- Đồng Kiên Cương bao gồm:
1. Đoạn Sách Lục
2. Tham Thiền Yếu Chỉ
3. Kim Cương Trường Đà La Ni Kinh Chú
4. Pháp Hoa Kinh Khoa Sớ
5. Bồ tát Tâm Kinh Khoa Sớ
  1. Thạch Thật Mị Ngữ
  2. Pháp Sự Khoa nghi
  3. Lăng Già Kinh Khoa Sớ
  4. Hộ Quốc Nhân Vương Nghi Quĩ
  5. Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ Lục …
Với lòng tưởng niệm vô biên, biết ơn vô hạn, xin cầu nguyện cho các hương linh các tổ tiên, ông bà họ Đồng, các Anh hùng liệt sỹ, những con cháu họ Đồng đã khuất luôn được an nhàn. Nơi Chùa Linh Xuân này, dòng tộc họ Đồng Việt Nam cầu mong cho các hương linh của tổ tiên, con cháu họ Đồng đã khuất hãy an nghỉ cho ngàn thu in bóng, hình hài hòa quyện với non sông, đất nước và sẽ sống mãi trong lòng dòng tộc họ Đồng Việt Nam .
Họ Đồng Việt Nam chúng con xin nguyện một lòng đoàn kết, sống nương tựa vào nhau, đùm bọc nhau, vượt qua mọi khó khăn để trụ vững và trường tồn trên quê hương mình, tiếp tục nỗ lực xây dựng dòng tộc và xã hội Việt Nam tốt đời đẹp đạo trong thời đại vươn mình.
Trân trọng cám ơn!
 

[1] Nguyên văn chữ Hán: Chư Phật, Bồ Tát, sở hữu hành nguyện, ngã kim phụng trì; nhược nhất thiết chúng sinh, hoặc hỷ tán, hoặc khinh mạn, hoặc thí dự, hoặc xâm đoạt, xúc mục văn danh, tất giai xả chi, linh đăng giác địa - Trích trong Phát Nguyện Văn.
[2] Người hộ pháp, cúng dường
[3] Việt Nam Phật Giáo sử luận, Nguyễn Lang (Hòa thượng Thích Nhất Hạnh)
[4] Việt Nam Phật Giáo sử luận, Nguyễn Lang (Hòa thượng Thích Nhất Hạnh), trang 383
[5] Sách Tam Tổ Thực Lục ghi là vào năm 1311, vua Anh Tông xuống chiếu cho khắc Đại Tạng Kinh và năm 1321, tôn giả Pháp Loa đã viết lời Bạt cho Đại Tạng Kinh đời Trần.
[6] Sao lại bản chính Đại Tạng Kinh 6010 quyển, đóng thành 587 tập, thỉnh  từ nhà Nguyên bên Trung Quốc.
[7] Hiện nay chùa Vĩnh Nghiêm - làng Đức La thôn Quốc Khánh, xã Tân An, tỉnh Bắc Ninh, còn được gọi là chùa Đức La, là một trung tâm Phật giáo, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước, một viên ngọc sáng của các chùa cổ Việt Nam
[8] Trong kỳ họp của Ủy ban Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương diễn ra tại Bangkok - Thái Lan từ 14-16/5/2012, Thư viện mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm đã được công nhận là Di sản ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Sự kiện này được xếp thứ 2 trong 10 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch nổi bật nhất năm 2012 của Việt Nam.
[9] Vua Anh Tông đối với Tổ thường khiêm tốn xưng là đệ tử
[10] Bản dịch: Nguyễn Lang (Hòa thượng Thích Nhất Hạnh) – Việt Nam Phật giáo sử luận.
 
[11] Chùa hiện ở TDP Thanh Mai, phường Nguyễn Trãi, TP. Hải Phòng
Bản quyền bài viết thuộc về Ban Liên lạc Họ Đồng thành phố Hải Phòng
Ghi rõ nguồn "Trang tin Họ Đồng thành phố Hải Phòng" và dẫn đến URL nguồn tin khi phát hành lại thông tin từ website này.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Các kênh thông tin họ Đồng Tp. HẢI PHÒNG
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập6
  • Hôm nay920
  • Tháng hiện tại14,578
  • Tổng lượt truy cập1,499,109
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây